Tin tức
Chi phí kinh doanh ở Việt Nam cao nhất khu vực

Những chi phí 'hữu hình'

Chi phí vận tải ở nước ta vẫn đang ở mức cao đối với cả ngành sản xuất và thương mại dịch vụ.

Đối với vận tải đường biển, theo tính toán của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cước vận chuyển 1 container 40 feet xuất đi Mỹ là 3.000USD, cao gấp 1,5 lần so với Trung Quốc (2.000USD) và 1,2 lần so với Thái Lan (2.500USD).

Ngoài nguyên nhân phải thuê các hãng tàu nước ngoài và mua bảo hiểm hàng hoá của các Công ty bảo hiểm nước ngoài, còn có nguyên nhân từ các chi phí dịch vụ cảng biển như phí CFS (hàng lẻ), phí lưu kho bãi, lưu container, phí nâng hạ container, phí điều hành bến bãi, phí vệ sinh container, phí đại lý...

Chi phí vận tải đường bộ cũng là một gánh nặng đối với doanh nghiệp do địa hình phức tạp, hệ thống hạ tầng giao thông kém phát triển, phương tiện vận tải kém chất lượng, phí cầu đường; trong khi đó, theo tính toán của các chuyên gia, nếu cải thiện được những vấn đề này thì doanh nghiệp có thể hạ giá thành vận chuyển ít nhất là 30%.

Giá điện kinh doanh ở nước ta tuy không cao, nhưng theo các doanh nghiệp, tổn thất về điện năng trung bình từ 10-15%.

Giá thuê mặt bằng cũng ở mức cao, chưa thật sự bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn, giá thuê đất ở khu vực thành thị có 5 hạng trong khoảng từ 0,18 – 1 USD giá sàn, đến 2,16 – 12 USD giá trần, giá thuê văn phòng loại tốt ở Hà Nội vào khoảng 15-20USD/tháng...

Chi phí nhân công ở Việt Nam đang có dấu hiệu kém hấp dẫn nếu so sánh mức thu nhập của người lao động với chất lượng lao động, năng suất lao động, giá trị sản phẩm mà người lao động tạo ra. Do thiếu lao động có tay nghề, kỹ thuật, nhiều doanh nghiệp phải sử dụng lực lượng lao động kém chất lượng, dẫn tới năng suất lao động thấp, chi phí nhân công trên giá thành sản phẩm tăng lên.

Mặt khác, rất nhiều ngành hàng thiết yếu của Việt Nam đang phải nhập ngoại nguyên, nhiên, phụ liệu... nên phụ thuộc rất lớn vào sự biến động giá cả thị trường thế giới với chi phí đầu vào cao, song sự điều tiết vĩ mô của Chính phủ nhiều lúc chưa theo kịp, chẳng hạn đối với các ngành như: thép, xăng dầu, ximăng, giấy, phân bón... nơi mà sản phẩm đầu ra của nó lại là đầu vào của nhiều ngành khác, do đó, chi phí tăng của những ngành này đã gây ra hiệu ứng dây chuyền làm tăng chi phí của hàng loạt ngành khác. Nhiều loại hàng hoá nhập khẩu, ngoài thuế nhập khẩu còn phải chịu thuế giá trị gia tăng mặc dù chưa hề có giá trị tăng thêm, trong khi thời gian hoàn thuế giá trị gia tăng lại chậm, điều này cũng trực tiếp làm tăng chi phí cho các doanh nghiệp do thiệt hại về vòng quay vốn, lãi suất ngân hàng, chi phí vốn ứng trước lớn.

Những chi phí 'vô hình'

Vấn đề chi phí trong khuôn khổ pháp luật cũng nảy sinh những so sánh bất lợi. Điều làm cho các doanh nghiệp chưa hài lòng là sự phức tạp của thủ tục hành chính gây tốn kém cả về thời gian, tiền bạc, đặc biệt trong giải phóng mặt bằng, triển khai dự án đầu tư, giải ngân vốn, hoàn thuế. Thời gian đối với doanh nghiệp chính là tiền bạc vì liên quan tới cơ hội kinh doanh, vòng quay vốn..., chẳng hạn, hiện thời gian cấp phép cho hoạt động của các doanh nghiệp tuy đã được rút ngắn, nhưng thời gian hậu cấp phép như giao đất, giải phóng mặt bằng... vẫn chưa mấy tiến triển so với trước.

So sánh với một số nước trên thế giới và trong khu vực cho thấy: nếu thời gian khởi sự cho một doanh nghiệp ở Australia là 2 ngày, ở Trung Quốc là 46 ngày thì ở Việt Nam là 63 ngày; thời gian thực thi 1 hợp đồng ở Tunisie là 7 ngày, ở Singapore là 50 ngày thì ở Việt Nam là 120 ngày.

Nguyên nhân của tình trạng trên là trình độ, năng lực thực thi công vụ của công chức còn rất thấp, thời gian xử lý công việc kéo dài, không nhất quán, bộ máy hành chính cồng kềnh, thủ tục hành chính rườm rà, sự thiếu đồng bộ, nhất quán của các văn bản pháp luật, chưa kể sự nhũng nhiễu vòi vĩnh.

Việc các doanh nghiệp phải nai lưng gánh những khoản tiêu cực phí do thái độ cửa quyền, nhũng nhiễu của một số người làm công tác “cầm cân, nảy mực” đã trở thành một thực tế nhức nhối, mặc dù Chính phủ đã rất nỗ lực giảm thiểu những chi phí bất hợp lý và ngăn chặn những chi phí ngoài luồng.

Những chi phí ngầm này rất khó thống kê bằng những con số cụ thể nhưng lại là một thực tế đang tồn tại, gây bức xúc cho doanh nghiệp và công luận với rất nhiều hình thức biểu hiện, như tiền “làm luật” cho công an, hải quan, thuế vụ; tiền “bôi trơn” khi xúc tiến các thủ tục hành chính... Những tiêu cực phí này, ngoài việc làm tăng chi phí này, ngoài việc làm tăng chi phí, đội giá thành, giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thì điều nguy hại hơn là tạo ra sự coi thường, bất chấp pháp luật trong cộng đồng xã hội, làm thoái hoá, biến chất đội ngũ công chức và làm giảm sút lòng tin của những người làm ăn chân chính đối với bộ máy nhà nước.

Giảm chi phí có dễ ?

Sự hấp dẫn về giá cả là một ưu thế cạnh tranh rất lớn của một sản phẩm hàng hoá, bên cạnh sự bảo đảm về chất lượng. Để có giá cả hấp dẫn, các chi phí trên một đơn vị sản phẩm phải giảm thiểu tối đa. Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với hàng hoá Việt Nam khi chúng ta đang bước vào một sân chơi chung, trong một cơ cấu hàng hoá tương đồng với nhiều nước có nền kinh tế mạnh hơn hơn trong khu vực. Tuy nhiên, để giải bài toán này các doanh nghiệp nước ta đang gặp không ít trở ngại bởi có những vấn đề nằm ngoài tầm với của họ.

Rõ ràng, để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, việc nhanh chóng giảm thiểu những chi phí nêu trên là cực kỳ bức thiết. Để làm được điều đó, cần đẩy mạnh hơn nữa cải cách bộ máy hành chính và thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng nhân lực trong bộ máy nhà nước; xây dựng quy trình nghiệp vụ thống nhất, đơn giản, hiệu quả, minh bạch; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước và xử lý các thủ tục hành chính; xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, tương đối ổn định, đặc biệt là các chính sách thuế; đẩy mạnh đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề, có tinh thần kỷ luật và tính chuyên nghiệp cao; tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng hệ thống kết cấu hạ tầng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá; đẩy mạnh hơn nữa công tác chống tham nhũng, lãng phí; nhanh chóng xoá bỏ độc quyền đối với các ngành do nhà nước sở hữu, mở rộng đối tượng đầu tư tạo nên tính cạnh tranh cao nhằm nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ với chi phí thấp nhất trong những ngành này

Khởi công tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng

Dự án có tổng mức đầu tư 24.566 tỷ đồng, được thực hiện theo hình thức hợp đồng BOT, dài 105,5 km, qua 4 tỉnh, thành phố Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng.

Đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng là đường cao tốc loại A có chiều rộng mặt cắt ngang bình quân là 100m, gồm 6 làn xe với tốc độ 120km/giờ.

Tuyến đường còn có 2 làn dừng khẩn cấp và đường gom ở các vị trí cần thiết cùng hệ thống kiểm soát giao thông thông minh và thu phí tự động, khép kín; 6 nút giao thông khác mức tại giao cắt các quốc lộ và 52 cầu vượt có tổng độ dài khoảng 11km.

Để có mặt bằng thi công toàn tuyến 1.250 hộ dân với 7.700 người sẽ phải di dời. Tổng giá trị đền bù di dời cho dân và một số công trình điện, thuỷ lợi lên đến gần 2.500 tỷ đồng.

Tuyến đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2011, khắc phục sự quá tải của quốc lộ 5 hiện nay, góp phần khai thác tiềm năng kinh tế để phát triển khu vực Bắc bộ và tăng cườngkhả năng kết nối giao lưu hàng hoá giữa các cảng biển phía Bắc Việt Nam với các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

 
 
Bài viết khác
  • Chi phí kinh doanh ở Việt Nam cao nhất khu vựcCập nhật: 19/12/2014 6:51 PM
  • Khởi công tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải PhòngCập nhật: 22/12/2014 7:25 AM
Cập nhật: 19/12/2014 6:51 PM
Cập nhật: 22/12/2014 7:25 AM